Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Huyện Đông Hòa xin giao dự án Khu trung tâm hành chính và khu dân cư xã Hòa Tâm cho tỉnh

UBND huyện Đông Hòa – chủ đầu tư - vừa có công văn trình UBND tỉnh xin bàn giao dự án Khu trung tâm hành chính mới và khu dân cư mới (bao gồm khu tái định cư) của xã Hòa Tâm (huyện Đông Hòa) cho tỉnh.
Lý do bàn giao dự án này là do nhà thầu không đủ khả năng về tài chính để thi công dự án hoàn thành theo hợp đồng đã ký; dự án không được ghi vốn năm 2012; chủ đầu tư (UBND huyện Đông Hòa) xét thấy khó có khả năng hoàn thành nhiệm vụ quản lý đầu tư dự án.
Trong quá trình thực hiện thi công dự án, ban Quản lý dự án 519 đã ra hai quyết định xử phạt vi phạm hợp đồng đối với liên danh Cty CP Long Việt (đơn vị tổng thầu), nhưng đơn vị nay không thực hiện quyết định xử phạt. Xét thấy năng lực của nhà thầu không đủ khả năng về tài chính để thực hiện dự án hoàn thành theo hợp đồng đã ký, ngày 17/10/2011, chủ đầu tư đã ra thông báo chấm dứt hợp đồng đối với đơn vị này. Theo UBND huyện Đông Hòa, hiện tại dự án thực hiện với tổng giá trị khoảng 23 tỉ đồng (đã thanh toán hơn 8 tỉ đồng). Trong đó, chi phí tư vấn và chi phí khác của giai đoạn chuẩn bị đầu tư đã thực hiện khoảng hơn 17 tỉ đồng; công tác thi công từ tháng 3/2010- 17/10/2011, giá trị thực hiện khoảng gần 5,6 tỉ đồng, nhưng chưa nghiệm thu, bao gồm các hạng mực: thi công 2 cầu tạm, san nền khoảng 55.000m3, kênh xử lý chống ngập úng.
theo PYO

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

GS-TS-KTS Hoàng Đạo Cung

Được tin GS-TS-KTS Hoàng Đạo Cung, vừa đột ngột qua đời hồi 04h48′ sáng 05-4-2012 (15-3/Nhâm Thìn) tại thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 68 tuổi; Kiến trúc sư Phú Yên xin thành kính gửi lời chia buồn sâu sắc đến tang quyến và thân hữu KTS Hoàng Đạo Cung.
GS-TS-KTS Hoàng Đạo Cung sinh năm 1944, tốt nghiệp văn bằng Kiến trúc sư tại đại học Xây dựng năm 1968, là Hội viên hội KTS VN năm 1979. GS-TS-KTS Hoàng Đạo Cung là con trai của Cụ Hoàng Đạo Thúy - một nhân sĩ và nhà văn hóa lớn, từng là sáng lập và thủ lĩnh của Hướng đạo sinh Đông Dương, là chính khách trong Chính phủ thời kỳ đầu của Việt Nam DCCH...
Sinh thời, GS-TS-KTS Hoàng Đạo Cung cũng là một nhà nhân văn; ngoài việc nghề kiến trúc, ông còn là tác giả của nhiều đầu sách và từng giữ một trang mục trên báo Lao động.
Để tưởng nhớ GS-TS-KTS Hoàng Đạo Cung, Kiến trúc sư Phú Yên xin trân trọng giới thiệu bài viết của ông.
Ngõ hẻm và sự dị dạng của đô thị
Hà Nội ngày xưa là “kẻ chợ”. Đô thị hình thành từ những ô phố, “phường nghề” với bốn mặt là mặt tiền, nhà ống. Nhà ống là tế bào cơ sở của “đô thị kẻ chợ”. Một chút hoài niệm cùng bài viết của KTS Hoàng Đạo Cung.
Phía ngoài là cửa hàng, phía trong là xưởng, làm ra sản phẩm với quy mô sản xuất gia đình, đưa ngay ra ngoài để bán. Ở giữa có sân trong để lấy ánh sáng, lấy không khí và tạo một chút thiên nhiên thu nhỏ với cây cảnh, giả sơn, chậu cá vàng và ít giò lan. Nơi ấy có căn gác xép để ngủ, đọc sách và làm thơ. Nhà ống sâu tới dăm bảy chục, một trăm mét. Các đơn vị tế bào nhà ống cơ bản là xấp xỉ nhau, chênh nhau không nhiều lắm. Đến đoạn cuối là các nhà vệ sinh, nơi chăn nuôi vài con gà vịt… Lõi của ô phố thường là một cái ao, một cái hồ nhỏ, thậm chí một bãi hoang. Về sau, các hộ nghèo hơn ở lùi vào trong, thế là hình thành các ngõ.
Ngõ là “giải pháp tình huống”
Về cơ bản, cách cư trú trong các ngõ là “giải pháp tình huống”. Không đủ tiền sở hữu một nhà ống mặt tiền “như người ta”, họ mới phải ở ngõ với các điều kiện kinh tế kinh doanh, môi trường, ánh sáng, giao thông, vệ sinh kém thuận lợi hơn. Đối với cuộc sống, quy hoạch, quản lý, vận hành đô thị, ngõ không phải là một đồ án chính thống, không phải là một giải pháp lý tưởng, một sơ đồ mong muốn, ngõ chỉ là (xin nhắc lại) “giải pháp tình huống”, đã xuất hiện trong lịch sử hình thành đô thị.
Đã là giải pháp tình huống thì có nhiều điều thiệt thòi. Ở ngõ, mọi người chỉ được cái là quan hệ chòm xóm đầm ấm hơn ở mặt phố. Người đô thị tất cả đều có gốc nông thôn, quen và dễ chịu với quan hệ tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau. Ở ngõ, ai qua nhà ai cũng được, có việc thì cứ tự nhiên mà qua, không có việc gì cũng ghé qua chơi, chén trà, miếng trầu, câu chuyện bâng quơ.
Thế là hình thành nếp sống ngõ phố, mà có nhiều người ưa thích quá, tôn lên thành văn hóa ngõ phố và hết lời ca ngợi.
Tuy nhiên, suy tới những căn gốc, nghĩ một cách tỉnh táo và khách quan thì ngõ phố là một di sản của lịch sử để lại. Ngõ phố không được tốt lắm cho đô thị, nay ta thừa hưởng thì phải tìm cách duy tu và cải thiện thôi. Ngõ phố là những khó khăn của đô thị, trước hết là về môi trường, vệ sinh, sức khỏe, sau đó là hàng loạt vấn đề về giao thông, nhất là khó khăn cho việc phòng cháy, chữa cháy.
Tôi không có con số thống kê, nhưng lâu rồi, có đọc một tài liệu là Hà Nội có hơn 3.000 ngõ, TP.HCM có hơn 5.000 ngõ. Thật là khó khăn và nguy hiểm. Hỏa hoạn thường xảy ra trong các ngõ từ mấy nhà sản xuất có hóa chất, chất dễ cháy, và đã cháy là cháy cả ngõ vì xe cứu hỏa khó tiếp cận.
Cần ngăn chặn đô thị dị dạng
Cũng chính vì ngõ phố không phải là một sơ đồ đô thị thuận lợi nên làm quy hoạch mới, ai mà quy hoạch các ngõ hẻm. Vậy mà, ở Hà Nội, TP.HCM và nhiều thành phố khác của ta vài chục năm nay tăng thêm vô số ngõ nhỏ. Các làng ven đô, vì là làng, mỗi người dân cũng có dăm bảy trăm, một vài ngàn mét vuông đất. Ở trong làng nên là đất thổ cư, đất thổ cư có giá, bà con bán một phần cho người khác làm nhà 3-4 tầng, mình nhận số tiền cũng làm nhà 3-4 tầng. Điều tệ hại nhất là các làng bỗng nhiên ken đầy nhà phố nhưng đường vẫn là đường làng, chỉ rộng vài ba mét, rất bế tắc về hạ tầng, giao thông, môi trường, nguy hiểm nhất là xe chữa cháy, xe cứu thương không thể tiếp cận được. Chính các ngõ phố tự phát đó đã làm tăng số ngõ phố lên nhiều lần.
Không ai lường trước rằng các làng ven đô sẽ tự phát đô thị hóa sao? Không ai tính trước làng nào phải bảo tồn (để bảo tồn một cách quyết liệt, với giải pháp thực tế, hữu hiệu), còn làng nào chấp nhận đô thị hóa? Đô thị hóa thì phải vạch thành đường phố, kẻ sơn, đóng mốc, hướng dẫn bà con làm nhà lùi vào, giải thích với bà con lùi vào mất đi vài chục mét vuông nhưng bà con sẽ không thiệt thòi gì. Thay vì có 120 m2 nhà ngõ hẹp, bà con sẽ có 100 m2 nhà mặt phố rộng, giá trị cao hơn nhiều lần.
Xin nói thẳng ra rằng về quản lý và chuyên môn, chúng ta đã bỏ qua chuyện này mất vài chục năm. Giờ này các khu vực “phố làng” đó đã rộng mênh mông, rộng lớn hơn cả đô thị vốn có nằm trong lõi. Nếu lấy bản đồ tô màu lên các làng đô thị hóa tự phát, chúng ta sẽ nhìn thấy rõ ngay. Đó là các vết bạch biến lớn làm méo mó đô thị, lộn xộn đô thị, nguy hiểm cho đô thị và cuộc sống đô thị. Và tôi không thể tưởng tượng được có một ngày nào ta khắc phục được những vết bạch biến đó vì đến bao giờ ta có cả trăm ngàn tỉ đồng đền bù mà đập đi cả trăm ngàn ngôi nhà 3-4 tầng để mở đường lại thành đường phố. Mà nếu ta có trăm ngàn tỉ đồng để đền rồi đập đi thì cũng là bỏ trăm ngàn tỉ đồng của xã hội, của đất nước vào… sọt rác.
Tôi nghĩ các nhà quản lý và các nhà chuyên môn chúng ta không thể chối cãi cái trách nhiệm to lớn của mình trước lịch sử kiến trúc, lịch sử phát triển đô thị.
Đó là việc đã rồi, rất đau, nhưng chắc phải bó tay.
Nhưng còn bao nhiêu làng lân cận ở vòng ngoài nữa, đang diễn biến rất nhanh quá trình giống như vậy. Có rút kinh nghiệm để ra tay cho sớm (mà cũng không còn sớm gì nữa) hay tiếp tục nhìn các vết bạch biến – đô thị dị dạng tiếp tục phát triển tràn lan rồi sau đó “bó tay”, “vô phương”? Mà ra tay thì cũng chỉ tốn tiền quy hoạch, cắm mốc và hướng dẫn, đã phải bỏ tiền ra đâu.
 Ngay cả các khu đô thị mới, phát triển có quy hoạch và rất thành công về quy hoạch (như khu Mỹ Đình) thì vẫn lọt vào đô thị các làng quê cũ đang đô thị hóa tự phát để trở thành đô thị dị dạng. Đơn giản chỉ vì các chủ đầu tư chỉ chọn đất ruộng để đền bù cho rẻ (nguyên lý biến đất ruộng thành đất nền). Không ai chịu lập dự án trùm vào các làng, sợ đền bù thổ cư giá cao, chịu không nổi. Và các làng đó đang đô thị hóa tự phát thành đô thị dị dạng ngay trong khu quy hoạch chỉn chu.
Tháng 10-2011

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Có nên làm đường bằng bêtông XM trên quy mô lớn?

Chí Hiếu//SGGP
Sau ba năm chuẩn bị, đề án “Sử dụng ximăng trong xây dựng hạ tầng giao thông” của bộ Xây dựng sắp được triển khai với quy mô lớn.
Đề án được khởi động trong bối cảnh mới đây, người đứng đầu hai bộ Xây dựng và Giao thông vận tải đã cùng nhau ký chương trình hành động của hai bộ về tăng cường sử dụng ximăng trong xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông.
Theo Bộ trưởng Đinh La Thăng, việc sử dụng ximăng trong xây dựng sẽ góp phần phát huy nội lực trong nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội và giảm nhập siêu bởi việc xuất khẩu ximăng là xuất khẩu điện và than giá rẻ bởi nếu tính đúng giá điện, giá than, thì giá thành ximăng không thể thấp như vậy. “Hiệu quả thực tế về sử dụng ximăng đã được kiểm nghiệm tại đường băng sân bay, các tuyến đường giao thông nông thôn có chất lượng và tuổi thọ rất tốt”, ông Thăng nói.
Giá thành đường bêtông ximăng đúng chuẩn cao gấp 1,4 lần đường nhựa
Hiện nay giá ximăng của Việt Nam rẻ, chỉ vào khoảng 50 USD/tấn, trong khi đó nhựa (asphalt) phải nhập với giá 800 USD/tấn. Đặc biệt hiện tại Việt Nam đang thừa ximăng, do đó làm đường bằng bêtông ximăng là hợp lý. Đường bêtông ximăng có thể dùng được 30 năm, trong khi đường bêtông asphalt chỉ dùng được khoảng 6 – 7 năm và tối đa mười năm là hỏng. Do đó, tính về lâu dài, làm đường bằng bêtông ximăng là tốt nhất, vì chi phí duy tu rẻ hơn nhiều. Tuy nhiên, nếu làm đường bêtông ximăng đúng theo tiêu chuẩn quy định thì nó đắt hơn đường làm bằng bêtông asphalt khoảng 1,2 – 1,4 lần. 
TS Trần Văn Huynh (nguyên Thứ trưởng bộ Xây dựng, Chủ tịch hội Vật liệu xây dựng Việt Nam

Còn theo Bộ trưởng Xây dựng Trịnh Đình Dũng, mặc dù bêtông ximăng đòi hỏi nền đường phải tốt, nhưng ưu điểm của nó là tuổi thọ từ 20 – 30 năm, trong khi bêtông nhựa chỉ hơn mười năm. “Hơn nữa, chúng ta có thể tự sản xuất ximăng nên sẽ hiệu quả về mặt kinh tế trong thi công xây dựng công trình giao thông”, ông Dũng nói. 
Tuy nhiên, PGS.TS Tống Trần Tùng, Phó chủ tịch hội đồng Khoa học công nghệ (bộ Giao thông vận tải), lưu ý: “Nói đường bêtông ximăng hiệu quả hơn hay rẻ hơn chỉ với điều kiện tính đầy đủ vòng đời của nó, tức phải 40 – 50 năm mới hỏng. Vì thế, nếu lấy ví dụ tất cả đường bêtông ximăng đã làm ở nước ta thì chưa nói lên điều gì. Thậm chí, dù mới qua 1/4 vòng đời nhưng nhiều đoạn bêtông ximăng trên quốc lộ 1 như đoạn nam cầu Bến Thuỷ, bắc huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh), nam cầu Quán Hàu (Quảng Bình) đang hỏng. Đặc biệt là đoạn nam Quán Hàu, có chi phí gấp 2,3 lần chứ không chỉ hơn 20% như dự tính”. 
Theo ông Tùng, chỉ tính toán cho loại kết cấu mặt đường bêtông ximăng dạng phân tấm không cốt thép ở một số dự án đã thực hiện ở nước ta cho thấy: giá thành ban đầu đã cao hơn 2 – 2,5 lần so với mặt đường bêtông nhựa. Còn nếu sử dụng bêtông ximăng lưới thép, bêtông ximăng cốt thép liên tục và bề mặt được xử lý theo các phương pháp tiên tiến của thế giới để tăng độ êm thuận và giảm độ ồn, thì giá thành có thể gấp ba và hơn nữa. “Phong trào làm đường giao thông nông thôn bằng bêtông ximăng cũng đang phải trả giá vì kém chất lượng, khi đã hư thì khắc phục rất khó”, ông Tùng khuyến cáo. 
“Làm đường bằng bêtông ximăng là xu hướng phát triển của cả thế giới, vấn đề là phải quản lý thật chặt về chất lượng, phải chú trọng kết cấu nền, móng, chứ nếu làm mỗi lớp mặt như đường giao thông nông thôn thì sẽ trả giá đắt”, TS Tùng nhấn mạnh. 
Không phù hợp với đô thị hay ngập nước
Theo TS Vũ Xuân Hoà, Giám đốc Cty CP Tư vấn xây dựng Bách khoa (trường đại học Bách khoa TP.HCM), đường làm bằng bêtông ximăng sẽ tốn hơn so với đường bêtông nhựa; đặc biệt không phải đô thị nào cũng có thể làm đường bằng bêtông ximăng thay thế cho bêtông nhựa.  
Ông đã từng thiết kế đoạn đường nào làm bằng bêtông ximăng chưa?
- Tôi đã từng thiết kế thi công đường bằng bêtông ximăng cho những đường dẫn vào các bãi chôn lấp rác ở khu vực Củ Chi (TP.HCM). Thực tế so sánh độ cứng và độ bền của bêtông ximăng cao hơn bêtông asphalt (bêtông nhựa), nhưng đổi lại chi phí xây dựng ban đầu tốn kém hơn rất nhiều. Mức độ cao hơn thế nào thì phải tuỳ thuộc vào các công trình cụ thể, tuỳ thuộc vào loại bêtông ximăng nào mới tính được con số cụ thể. Do đó, tuỳ tình hình vốn, địa hình, địa mạo của từng nơi, từng đô thị mà quyết định, không nên áp dụng máy móc. Dù sao, bêtông ximăng vẫn có giá thành cao hơn bêtông nhựa.
Ngoài giá thành cao, bêtông ximăng còn nhược điểm gì? 
- Nhược điểm lớn nhất chính là các khe hở giữa các miếng bêtông ximăng. Khi xe cộ lưu thông thường xuyên bị rung lên khi chạy qua các khe hở kể trên, do đó, đường làm bằng bêtông ximăng sẽ không êm bằng đường làm bằng bêtông nhựa. Còn về độ bám, đường làm bằng bêtông ximăng bám mạnh hơn đường bêtông nhựa, sẽ gây mòn vỏ xe nhanh. Để hạn chế các nhược điểm trên, nếu làm đường bằng bêtông ximăng phải sử dụng công nghệ hiện đại, không thể nhắm mắt làm liều. 
Riêng đối với đường làm bêtông ximăng, để bảo đảm tuổi thọ, mặt đường phải được thoát nước thật tốt. Nếu đường thường xuyên bị ngập sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ công trình. Do đó, một đô thị thường xuyên bị ngập thì không nên bỏ một số tiền lớn ra làm đường bằng bêtông ximăng.
Đoàn Quý – Đào Lê

Quy hoạch đô thị: Đừng nên chỉ nhìn vài chục năm

Theo ông Jacob Christian, Chủ tịch nhóm nắm đa số tại Quốc hội Pháp, đồng Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế-Tài chính Việt Nam và Pháp, chính sách quy hoạch hiện thường chỉ nhìn ở tầm ngắn hạn. Chính việc này đã dẫn tới tình trạng không biết sai lầm sẽ xảy ra ở đâu và nhiều quy hoạch phải sửa đi sửa lại.
Trao đổi bên lề diễn đàn Kinh tế-Tài chính Việt Nam và Pháp lần thứ 9 vừa được tổ chức tại Hà Nội, ông Jacob Christian đã thẳng thắn chia sẻ những kinh nghiệm khác của Pháp trong công tác quy hoạch đô thị.
Sau 2 ngày làm việc, diễn đàn Kinh tế tài chính Việt-Pháp đã thu được những kết quả gì, thưa ông?
Ông Jacob Christian: Để có được diễn đàn lần này, chúng tôi đã làm việc khá rất vả trong 1 năm trước đó. Nhiều vấn đề đa dạng đã được đưa ra bàn luận tại diễn đàn lần này như vấn để quản lý đất đai, việc tác động của xu hướng đô thị hóa tới lối sống, truyền thống của người dân hay việc người nông dân sẽ ra sao khi nghề nông bị ảnh hưởng.
Một vài vấn đề khác cũng đã được nói tới như quy hoạch phân vùng hay việc đảm bảo giao thông giữa đô thị và vùng vành đai. Chúng tôi rất mừng vì diễn đàn đã được tổ chức thành công.
- Có thực tế ở Việt Nam là nhiều quy hoạch sau khi được quyết định thường phải sửa đổi khá nhiều lần, ông đánh giá thế nào về vấn đề này?
Ông Jacob Christian: Thường thì hiện nay các chính sách quy hoạch thường chỉ nhìn ở tầm ngắn hạn. Viêc này có thể xảy ra ở nhiều thành phố khác, không chỉ ở Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo tôi, chúng ta không nên thực hiện công tác quy hoạch với tầm nhìn vài chục năm mà phải dài hơn rất nhiều. Rõ ràng, nếu chỉ nhìn ngắn hạn thì không thể biết sai lầm xảy ra ở đâu.
Ví dụ như việc phân vùng, nếu chỉ nhìn vài chục năm thì khó biết được nơi nào phù hợp để xây dựng bệnh viện, nông nghiệp, hay trường học.
Ngoài ra, việc có kế hoạch dài hạn cũng là cách để thu hút nhà đầu tư, để họ cũng tổ chức việc đầu tư của mình.
- Mặc dù đã áp dụng khá nhiều biện pháp nhưng rõ ràng ùn tắc giao thông vẫn đang là bài toán khó giải, theo ông, vấn đề quy hoạch cần quan tâm điều gì để giải quyết vấn đề này?
Ông Jacob Christian: Lợi ích của việc phân vùng là có thể đưa tầm nhìn trước cho vùng chưa được đô thị hoá. Viêc này định hướng trước được mỗi vùng để làm gì, như nông nghiệp, công nghiệp...
Việc tổ chức đi lại trong thành phố từ đó có thể tính toán làm sao cho phù hợp. Các phương tiện giao thông như tàu hỏa, xe buýt, cũng phải tính tới bãi đỗ, như thế mới bảm đảm sự đi lại.
Thực tế, việc quy hoạch một số thành phố ở Pháp cũng gặp nhiều khó khăn. Việc phối kết hợp giữa các cơ quan ban ngành phải được thực hiện ở mức cao nhất. Với giao thông, nếu không có sự vào cuộc của nhiều cơ quan chức năng, rất khó để giải bài toán này. Nếu chỉ có sự ra tay của các cơ quan Trung ương thì rõ ràng không thể thể đảm bảo hiệu quả.
- Một vấn đề nóng đang được nhắc tới khi quy hoạch trong quá trình đô thị hóa ngày càng nhanh là việc thu hồi và đền bù đất cho người dân, ý kiến của ông về vấn đề này ra sao?
Ông Jacob Christian: Đây đúng là chủ đề đã được đề cập nhiều. Theo tôi, điều quan trọng là chọn được hệ thống đền bù minh bạch nhất với cơ cấu đơn giản, độc lập và đúng giá đất.
Chúng ta phải thỏa thuận chứ không phải cứ thế lấy đất. Lý tưởng nhất là làm sao chuyển đổi đất nông nghiệp một cách tự nguyện. Song song với việc đền bù đất cho nông dân, chúng ta cũng cần xây dựng thêm những công trình công ích để phục vụ lợi ích chung. Việc lấy đất nông nghiệp thậm chí có thể không cần là mục đích chính, nhiều nước vẫn duy trì được hoạt động nông nghiệp trong các vùng đô thị hóa. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi phải có cơ chế để đảm bảo sự tự nguyện của người dân.
Xin cảm ơn ông!
theo Vietnam+

Tư vấn thiết kế trăm ngàn rủi ro!

Thiết kế phí ở Việt Nam thấp, việc tăng là cần thiết. tuy nhiên, mấu chốt của thiết kế phí hiện nay không ở vấn đề đang thấp, cần tính nâng lên thêm bao nhiêu phần trăm, bao tiền cho một mét vuông? Quan trọng là thực tế, người thiết kế được bao nhiêu trong số % đó. Và, điều này phải được cân nhắc trong tổng hòa các điều kiện kinh tế xã hội. Cần xử lý gốc rễ của vấn đề, không nên làm theo phương cách “dập dịch”.
Vốn ngân sách… cứ làm đi rồi tính
Với những công trình sử dụng vốn ngân sách, phí tư vấn thiết kế 100% là dựa trên định mức sàn và thường thì rất khó để thỏa thuận mức thiết kế trên sàn. Gần như 100% các chủ đầu tư yêu cầu: “Ông cứ làm đi”. Nhưng nếu ngân sách bị cắt, chủ đầu tư nói năm nay không có vốn thì phải chịu. Thế là mất không! 
Một rủi ro nữa, liên quan tới những phần việc như lập kế hoạch, lên quyết toán công trình. Lẽ ra đơn vị chủ đầu tư phải làm, nhưng họ lại đang đẩy phần việc này qua bên nhà thiết kế. Trong thời buổi kinh tế khó khăn, ai cũng muốn có việc để làm, vậy nên gần như mọi người đều chấp nhận rủi ro. Đơn cử như 15 trường học ở huyện ngoại thành Hà Nội vừa qua, tư vấn chúng tôi vẫn làm dù chưa ký hợp đồng. Nhà tư vấn thiết kế thường rất kỳ vọng vào việc đó, làm phương án quy hoạch cho 15 trường, sau khi duyệt thông qua, chủ đầu tư giao thiết kế kỹ thuật thi công 5 trường (10 trường chia sẻ cho tư vấn khác do chủ đầu tư yêu cầu), gửi lên rồi nói không có vốn trong năm nay, khi nào có thì làm, không có thì thôi. Vậy là đành chờ. Đó cũng là một rủi ro phổ biến. Đúng ra, việc lên kế hoạch, ghi vốn đầu năm, trách nhiệm đó thuộc về các ban quản lý dự án, quận huyện, tỉnh thành phố. Sau đó họ phải đưa một phương án sơ bộ và khái toán mức đầu tư, khi được duyệt và có kế hoạch vốn rồi mới gọi các nhà tư vấn đến và ký hợp đồng tạm ứng tiền và triển khai thực hiện. Nhưng, hiện nay vốn ngân sách không làm như thế, các nhà thiết kế đều (bị) o bế, chăm sóc chủ đầu tư, thậm chí nhiều nơi chủ đầu tư còn đẩy việc chạy vốn cho nhà tư vấn. Ông thiết kế phải đi lo vốn này, ông thi công phải đi lo vốn kia... Với lượng việc có hạn, người ta chấp nhận bỏ công sức, chi phí đi lại để mong rằng, khi thực hiện được nhận làm. Còn, nếu chủ đầu tư không ký thì cũng “không làm gì được”. Biết bao công sức, đâu chỉ đơn thuần là làm bản vẽ, lên phương án. Có hợp đồng đôi khi còn không đòi được tiền, huống chi không có hợp đồng. Rõ ràng, tư vấn lúc nào cũng như con thoi, chạy đua giữa tìm việc - xin vốn - và quyết toán. 
Hiện nay, Bộ Xây dựng muốn kéo gần hơn thiết kế phí giữa tư vấn thiết kế trong và ngoài nước. Thực chất, nếu tất cả những rủi ro trên được giảm thiểu bằng chế tài, bằng hình thức này hình thức kia thì có lẽ, không cần nâng giá thiết kế phí, với cách tính hiện tại, nhà tư vấn vẫn có quyền sống khỏe! 
Ngoài ngân sách… được 50%
Với vốn ngoài ngân sách, chỉ khoảng 50% là thanh toán đầy đủ và đúng hạn. Nhiều chủ đầu tư, sau khi ký hợp đồng, tạm ứng rất đàng hoàng. Đến khi nộp bài cũng chỉ tạm ứng tối đa 50%. Và, tiếp đó là các chiêu bắt nhà thiết kế phải giảm hơn so với giá sàn để trừ vào những chi phí khác. Tất nhiên, với những công trình loại này, nhà tư vấn cũng chịu rủi do không kém. Sau khi hoàn thành, nhiều chủ đầu tư không thanh toán với trăm ngàn lý do: không có tiền, hoặc không đầu tư làm tiếp... Thế nhưng, rất có thể là vài năm sau họ vẫn làm, vẫn sử dụng sản phẩm đó của mình. 
Ký hợp đồng với chủ đầu tư khá tên tuổi là Công ty cổ phần tập đoàn BRG, thực hiện cách đây 5 năm. Hợp đồng thanh lý từ năm 2009, biên bản hồ sơ đã bàn giao và thanh toán được 50%. Sau đó làm rất nhiều công văn giấy tờ, đi lại mất thời gian đòi tiền để rồi nhận được câu trả lời: Không thể thanh toán tiếp. Một trường hợp khác là Công ty cổ phần Đại việt Trí tuệ, cũng chỉ thanh toán 50% giá trị hợp đồng sau khi đã nhận đủ sản phẩm tư vấn, hơn mười công văn đòi tiền gửi đi nhưng chúng tôi cũng không nhận được hồi âm bằng văn bản! Gọi điện cho giám đốc được trả lời 1 câu xanh rờn : “thôi không nói lý với tình nữa, bây giờ chúng tôi không có tiền, khó khăn lắm, khi nào có sẽ thanh toán”. Chẳng lẽ vác đơn đi kiện? Lại mất công mời luật sư, mất tiền theo kiện, mất thời gian... Như vậy, kể cả mình có thắng kiện cũng chưa chắc đã bõ công so với việc dành thời gian cho dự án mới. Đó là chưa kể, nhiều chủ đầu tư, trong quá trình làm dự án có sự thay đổi về nhân sự. Sếp mới lên lập tức đổi phương án, tư vấn lại phải lóc cóc theo để thực hiện xong hợp đồng. Vì thế, nhiều đơn vị chấp nhận ký lại chỉ bằng 40% - 50% giá trị hợp đồng, để được nhận tiền tươi thóc thật. Bình thường, nhân công (người trực tiếp thực hiện hợp đồng) chỉ chiếm khoảng 28 - 35% giá trị hợp đồng. Khi chấp nhận ký giá thấp để có việc, lại thêm rủi ro do chỉ được thu về 50%, như vậy phí nhân công chỉ còn khoảng 15%. Thế nhưng, KTS vẫn phải sống. Học nghề thì phải làm nghề, người làm nghề đành chấp nhận vô điều kiện với những rủi ro đó. Trung bình, phí tư vấn hiện đang ở mức khoảng 2 - 3,5% nhưng thực chất chỉ 1/3 số đó đến được tay nhà tư vấn. Trước những rủi ro đó, phí thiết kế nên nâng lên bao nhiêu cho vừa? 
Và, tiền ít thì phải làm nhiều! 
Khi mức thiết kế phí thấp, người tư vấn vẫn phải tìm cách sống. Vì vậy, không còn cách nào khác là phải tăng lượng đồ án, tăng lượng công việc lên. Chất lượng thiết kế đương nhiên giảm đi. Bản chất của vấn đề này rất giống với việc trả lương cho công chức nhà nước hiện nay. Nếu được trả lương đủ mức sống, chắc chắn họ sẽ chuyên tâm làm việc tốt, không phải lo làm thêm, xoay sở cho đủ. 
Mấu chốt của thiết kế phí hiện nay không chỉ ở vấn đề đang thấp. Quan trọng là người thiết kế được bao nhiêu trong số % đó. Và, cái mấu chốt ấy phải được cân nhắc trong tổng hòa các điều kiện kinh tế xã hội, chứ không phải bàn hôm nay, rồi ngày mai lại thay đổi theo trượt giá. Cần xử lý gốc rễ của vấn đề, không nên làm theo phương cách “dập dịch”. Chính vì vậy, khi xây dựng thiết kế phí cần xây dựng dựa trên việc người làm nghề sẽ nhận được bao nhiêu phần trăm. Đây là bài toán của xã hội, phải được xử lý đồng bộ để dần đưa vấn đề vào khuôn khổ. Thiết kế phí tại nước ngoài, đặc biệt là các nước phát triển, luôn ổn định. Đó là nhờ những quy định được dựa trên nền tảng kinh tế xã hội. Đây là vấn đề ai cũng hiểu, nhưng chưa mấy ai lên tiếng. Trong giai đoạn này, lời khuyên cho chủ đầu tư là phải tìm đến những nhà tư vấn giỏi, để có thể bước qua giai đoạn nhiễu nhương vàng thau lẫn lộn. Còn với các KTS, nếu muốn nhận mức thiết kế xứng đáng hơn, cao hơn, thì cần phải trau dồi, tự nâng cao trình độ ngang bằng các nhà tư vấn nước ngoài.
Cơ bản vẫn là cần có chế tài tốt. Cũng không cần thiết phải giữ 10% cho phần giám sát tác giả vì các công trình thường có thời gian thi công rất dài thậm chí dừng giữa chừng không thể bàn giao đưa vào sử dụng. Nhiều công trình như Nhà Hát Lớn, chợ Đồng Xuân, đến giờ này vẫn chưa quyết toán được. Biết làm thế nào? Biết kêu ai? Về nguyên tắc, khi đã bàn giao hồ sơ, việc xây dựng hay không là tùy ở chủ đầu tư, còn tiền thì vẫn phải thanh toán. Nếu đổ hết rủi ro lên vai nhà tư vấn, đời sống của đội ngũ này sẽ thấp và chất lượng khó mà tốt được. Chưa nói đến việc cắt vốn, trượt giá vì thanh toán chậm, hoặc chủ đầu tư ký hợp đồng với đơn vị khác... có tới hàng trăm ngàn thứ rủi ro. Khi chúng ta tính phí thiết kế có tính tất cả những chi phí đó hay không? 
KTS Lê Việt Sơn - Giám đốc Cty CP Thiết kế xây dựng Hà Nội (HDC)