Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

KTS Nguyễn Văn Tất

Anh là một trong những kiến trúc sư hiếm hoi của Việt Nam đã tạo được một “bầu khí quyển” riêng biệt, đầy xúc cảm, thấm đẫm hương vị nhiệt đới cho tác phẩm của mình. Đã có lần anh đặt câu hỏi: “Sự lãng mạn có mòn theo thời gian?”… và rồi chính anh lại tự động viên, nhắc nhở, nuôi dưỡng sự lãng mạn cho mình, như một dòng sống mãnh liệt giúp anh có thể hài hoà giữa kỹ thuật và nghệ thuật, tìm tới những giá trị tinh thần cho từng không gian sống.
Là Phó chủ tịch hội Kiến trúc sư Việt Nam, anh có thấy sốt ruột không khi thành phố mình ngày càng bị cắt nát và… xấu tệ?
KTS Nguyễn Văn Tất: Không gian đô thị làm ra phải vì con người sử dụng nó. Chất lượng không chỉ nằm ở tiện nghi hạ tầng đô thị mà còn ở sự cân bằng cuộc sống nói chung trong điều kiện đặc thù đó. Đâu phải thành phố nào cũng cần có xe buýt hai tầng, metro, nhà cao tầng, những trung tâm mua sắm sang trọng… mới kéo được khách du lịch đến đây? Người dân Sài Gòn vẫn cực kỳ thích thú khi lọt vào một không gian mộc mạc, đơn sơ, chân tình, với những người nông dân thư thái bên vườn cây trái dọc sông nước mênh mang, hoặc thả bộ trên những con đường nhỏ ven núi hoang sơ… Sự an lành hạnh phúc trong không gian đó đã là một giá trị. Có thể có người cho tôi là hoài cổ, và liệu điều đó có mâu thuẫn với sự phát triển? Ngay cả Liên hiệp quốc khi nhận định về mức sống và sự phát triển của một quốc gia, một thành phố, người ta bắt đầu nghiêng về chỉ số hạnh phúc chứ không chỉ là GDP. Đôi khi chúng ta quá nóng ruột về sự phát triển, khi có điều kiện đi đây đi đó lại càng nóng ruột. Phải biết mình có cái mà nước khác không có, đừng khắc phục sự thiếu thốn một cách vội vàng sẽ lợi bất cập hại, làm cho tình trạng xã hội luôn ở thế bất ổn. Nhìn lại 20 năm qua, chúng ta xây dựng rất nhiều công trình, nhưng tác phẩm kiến trúc rất ít. Tốc độ đô thị hoá diễn ra rất nhanh, nhưng giá trị đồng bộ hướng về hạnh phúc lại ít.
Bản sắc của Sài Gòn bây giờ chính là quả ngọt lẫn lầm lỗi của chặng đường dài 300 năm. Ở góc độ đó, bao nhiêu tiền bỏ ra làm bê tông bó vỉa hè đường, mới một hai năm đã lở lói xác xơ, làm sao sánh với những viên đá xanh trăm năm tuổi, mà đành đoạn vứt đi khá nhiều. Vẫn chưa có một quy chế sử dụng vỉa hè cho ra hồn đô thị, những cấm đoán kiểu bắt cóc bỏ đĩa khiến mỗi lần xe công an tới là chạy táo tác, làm sao có đô thị yên lành. Vỉa hè là kinh tế thật, tiền thật. Những gánh xôi, gánh bắp vỉa hè của những người mẹ, người chị đã nuôi biết bao người trở thành tiến sĩ, kỹ sư. Nhưng một vài con đường làm ăn bây giờ được chính giới xã hội đen kiểm soát… Cứ hào hứng với nhà cao tầng đi, nhưng hãy nhớ những ngôi nhà cũ hai tầng vẫn hái ra tiền ở quận 5, làm nên nét lãng mạn hương xưa… Rồi những con hẻm ngoằn ngoèo, những quán cà phê nổi tiếng, một góc chợ trời, một phố trái cây… Chỉ khi nào cảm hết những mạch đời quý giá trong lòng cái vỏ hỗn độn (và lạc hậu!) hàng ngày mới đủ sức ước mơ về một đô thị mới phát triển đậm chất Sài Gòn. Không có bản sắc nào không bắt đầu từ con người, nhất là kiến trúc đô thị.
Quy hoạch chi tiết không gian đô thị đâu chỉ là con số cộng của luật lệ, nó cần xúc cảm sáng tạo của kiến trúc sư quy hoạch và kiến trúc.
Với tốc độ xây dựng chóng mặt như hiện nay, nghề kiến trúc sư hẳn là… hốt bạc? Anh có suy nghĩ nhiều về chuyện giàu nghèo, liên quan đến chuyện xấu, đẹp của kiến trúc hôm nay?
Lâm Ngữ Đường từng nói đại ý bất cứ một ngành nghệ thuật nào mà người ta kỳ vọng vào đó sự thành công về tiền bạc thì những tác phẩm ấy chẳng thể gọi là nghệ thuật. Mỗi người có một hoàn cảnh, một đời sống rất khác nhau, nhưng tôi hiểu, nói theo Lâm Ngữ Đường, đi đến tận cùng nghệ thuật thì không giàu được.
Nhưng thế nào là giàu có? Theo cách hiểu thông thường, giàu là có nhiều tiền. Nhưng cũng có những thứ không thể quy ra tiền được. Với tôi, cuộc sống thực sự có ý nghĩa khi mình có được một công việc yêu thích để làm mỗi ngày, có những ray rứt và mong ước đem lại những điều tốt đẹp hơn cho cộng đồng bằng những đóng góp thiết thực.
Bức xúc nhất của anh là gì?
Là cái mình nghĩ có thể làm được, mang lại lợi ích rõ ràng, nhưng lộ trình của nó, tốc độ của nó còn quá chậm so với cái lẽ ra phải có. Đáng buồn nhất là khi người ta tự dằn vặt để tìm kiếm điều gì đó hay ho, thì việc thực hiện điều hay ho có thực đó lại gặp phải bao trắc trở. Nhưng tôi cũng hiểu rằng bất kỳ công việc gì liên quan đến những giá trị xã hội, đa chiều, cũng đòi hỏi điều kiện chín muồi. Đó cũng là mâu thuẫn lớn nhất giữa cái mình bức xúc và sự kiên nhẫn cần có. Con người mà, biết làm sao được!
Nhìn rộng ra hơn, anh có thấy đây cũng là “vấn đề” của trí thức nói chung?
Trí thức bao giờ cũng mong muốn được cống hiến, nhưng quyền đó còn rất hạn hẹp. Khi có quyền rồi thì hiệu quả, hiệu suất lại bị hạn chế. Bất cứ thời đại nào cũng có những người xuất sắc, và bản thân chuyện đóng góp là một nhu cầu tinh thần của trí thức. “Vấn đề” là xã hội phải biết sử dụng họ càng sớm thì càng tốt cho cộng đồng, để nâng cao chất lượng sống cho con người.
Không ít người đã xây vài ba ngôi nhà rồi mà vẫn băn khoăn đâu mới thực sự là ngôi nhà của mình. Anh có tư vấn gì cho việc thiết kế “ngôi nhà của chính mình”?
An là mục đích cuối cùng của không gian sống, vì “an cư mới lạc nghiệp”. An là sự cân bằng giữa một chút vật chất, một chút tinh thần, một chút mối quan hệ, niềm hy vọng… Khi bạn quyết liệt đi tìm một nơi chốn cho riêng mình, gia đình mình, phù hợp với cá tính và văn hoá của mình thì triển vọng để có một ngôi nhà đẹp là rất lớn. Ngược lại, tỷ lệ thất bại cũng rất lớn nếu bạn bỏ ra rất nhiều tiền để làm một căn nhà với tất cả sự hãnh tiến chỉ để khoe khoang với người khác. Suy cho cùng, xấu đẹp là chuyện của chính mình. Một căn nhà xấu sẽ gây phản cảm lớn không chỉ cho chủ nhân mà ảnh hưởng đến cả cộng đồng, trách nhiệm thuộc về bạn, về kiến trúc sư, và cả nhà quản lý. Do vậy, phải đặt ra vấn đề văn hoá ứng xử. Mua một cái nhà thì dễ, mua hàng xóm mới khó.
Bên cạnh những khu đô thị mới hiếm hoi như Phú Mỹ Hưng, Thảo Điền, phải chăng đang hình thành ở thành phố ta những khu ổ chuột mới?
Phú Mỹ Hưng là một trong 20 công trình được bầu chọn là công trình ấn tượng trong 20 năm đổi mới nhờ chất lượng về môi trường sống. Nhưng cùng lúc, số lượng lớn hơn rất nhiều là những khu đô thị, dân cư mới mà chỉ cần có chỉ số quản lý khác một chút là thấy rõ nó chẳng khác mấy so với những khu nhà phố liền kề, ổ chuột cũ. Nhìn vào việc phân lô, tỷ lệ cây xanh, có thể thấy chất lượng sống chỉ được nhích lên một bước khiêm tốn.
Anh nghĩ gì khi khá nhiều công trình lớn hiện nay của thành phố đều lọt vào tay nhà thầu ngoại, kiến trúc sư ngoại?
Nhiều chủ đầu tư và cả các quan chức hiện nay đều thích có tên nước ngoài trong thiết kế kiến trúc. Bụt chùa nhà không thiêng! Có những quan điểm và tâm lý mang tính chất “tước vũ khí” ngay trên sân nhà. Quan điểm của riêng tôi, hội nhập không phải là một cuộc giác đấu, một mất một còn để khẳng định mình là vô địch, mà là một cuộc đại hợp tác các bên cùng thắng. Vì nó là con số cộng của sở trường, sở đoản. Tôi từng làm đồ án quy hoạch chung với kiến trúc sư Singapore, tôi thấy họ có cái hay của họ, mình có cái mạnh của mình, nếu không tạo điều kiện để hai cái hay hợp nhất lại, mà phải thi đấu thì cũng đừng bị “tước vũ khí” một cách oan uổng. Đau hơn là khi nhà đầu tư nước ngoài được giao những công trình lớn, họ chỉ trích một phần chi phí đó thôi để đến thương lượng với mình làm từng phần trong dự án đó. Việc này chỉ có thể xảy ra và đã xảy ra khi bản thân giới kiến trúc sư Việt Nam chưa có luật kiến trúc sư, trong đó người thi hành không chỉ là kiến trúc sư, mà toàn xã hội. Vài tháng gần đây, bộ Nội vụ mới đồng thuận cho hội Kiến trúc sư cùng các bộ, ngành liên quan chuẩn bị dự thảo luật.
Anh suy nghĩ thế nào về cách ứng xử với các khu đất vàng hiện nay?
Cái gì cũng phải được giải quyết bằng sự cân bằng về quyền lợi giữa cá nhân và xã hội, nhóm lợi ích và cả cộng đồng, ngắn hạn và dài hạn… Đừng ăn trước mắt, đóng cửa tương lai, hoặc chỉ ngồi nói chuyện vĩ mô trên một thực tại bi đát. Về những khu đất vàng, quan điểm của tôi là không đấu giá, mà đấu thầu những dự án mang lại giá trị lớn cho đô thị, trong đó ngoài tiện nghi, ngoài hạ tầng xã hội, ngoài hứa hẹn về kinh doanh còn là những đóng góp rất cụ thể về thuế má…
Anh vừa ra mắt cuốn Hơi thở nhiệt đới. Là phó tổng biên tập tạp chí Kiến Trúc Nhà Đẹp, có phải làm báo và viết sách là cách để anh thoát khỏi những suy tư, dằn vặt về những bộn bề của đời sống hôm nay?
Hơn 15 năm nay theo đuổi việc xây dựng luật kiến trúc sư, nhiều lúc nản chí lắm, cũng có những bức xúc, căng thẳng, nhưng giờ tôi nhận ra để làm bất cứ cái gì cũng cần có sự chia sẻ, hợp tác, mới có đủ sức lực cho những điều tốt đẹp. Trên bước đường làm nghề nhọc nhằn và hạnh phúc, không ít lần tôi cảm thấy gánh nặng trách nhiệm của sự nghiêm túc, với nghề và với người, thấy bản thân mình cũng có lỗi. Tôi lại cảm thấy nhu cầu và niềm vui của sự chia sẻ và được chia sẻ, đó là lý do tôi cầm bút. Viết cũng là để tiếp tục sống với nó, có những suy nghĩ hướng thượng hơn, ứng xử một cách tích cực hơn. Qua những bài viết tản mạn, tôi nhận ra tri thức và văn hoá ứng xử là cực kỳ cần thiết với kiến trúc sư để mỗi tác phẩm làm ra có được giá trị thực sự.
Hạnh phúc lớn nhất của anh là gì?
Mang lại cho con người một không gian sống nghệ thuật, nhiều liên tưởng, nhiều rung động, nhiều cảm xúc hơn, trong đó có cảm xúc thẩm mỹ.
Với những tác phẩm đoạt giải thưởng quốc tế như Nhà ở nông thôn (1979), và các loại hình kiến trúc thư giãn như resort, nhà ở… luôn mở ra với thiên nhiên, sự hài hoà giữa triết lý phương Tây và phương Đông dường như đã mang lại “mùi vị” riêng cho những tác phẩm của anh?
Kiến trúc là nghệ thuật liên quan đến văn hoá, nhân văn nhiều nhất, để tạo không gian sống cho con người đủ mọi thành phần với những mục đích sử dụng, thói quen ứng xử khác nhau. Nói đến con người, là đụng đến quá khứ, gia đình, tôn giáo, đặc điểm dân tộc… Với công việc tạo phần hồn cho những sản phẩm xây dựng, nếu không có được những hiểu biết tinh tế thì không thể tạo ra những tác phẩm kiến trúc.
Một số thầy phong thuỷ uy tín khi xem các công trình của tôi cho rằng tôi là người… rất cứng về phong thuỷ. Đúng là có sự gặp nhau. Tôi phát hiện ra thuật phong thuỷ là một khoa học, kể cả tâm lý học trong xây dựng của người Á Đông, được chuyển tải bằng ngôn ngữ còn nhiều bí ẩn của vũ trụ luận mang đặc thù Trung Hoa: âm dương, ngũ hành, 12 con giáp, các sao… Bằng kiến thức được đào tạo trên sự duy lý phương Tây, tôi thấy thuật phong thuỷ hoàn toàn có thể hiểu và kiểm chứng theo logic tây học trong kiến trúc.
Với Nhà ở nông thôn, yêu cầu bản sắc và né tránh sự hiện diện thô bạo của kỹ thuật và vật liệu công nghiệp giúp tôi chiêm nghiệm về giá trị của sự hết lòng và chân thật với những cảm xúc của mình trong kiến trúc. Tôi cho rằng kiến trúc là thiên nhiên thứ hai của con người. Một kiến trúc thành công sẽ ra đời thật tự nhiên nhưng mạnh mẽ, thân thiện, đúng như một thiên nhiên thứ hai, toả sáng lâu dài và nâng đỡ cuộc sống con người.
Điều gì giúp anh có thể trụ vững trong cuộc sống đầy bất trắc này?
Bất kỳ ai, sống kiểu gì cũng đều luôn có người yêu kẻ ghét, người cảm thông, kẻ phản đối. Hãy sống trung thực, để người khác không ngộ nhận về mình, để mình không làm cho ai thiệt hại, hụt hẫng. Sự cắn rứt sẽ ập đến nếu như ai đó sống, làm việc, đối xử không trung thực. Trung thực là điều kiện trước nhất về tâm trí để làm tốt nhiều việc hữu ích khác. Còn để thể hiện sự trung thực một cách tốt nhất, cần một văn hoá ứng xử phù hợp, để cho mình có thể yên tâm với chính mình, và không làm tổn thương đến người khác.
Người thầy lớn nhất trong cuộc đời của anh là những ai?
Tôi có rất nhiều người thầy, mỗi người thầy như một cội nguồn để mình đi đến mọi thứ. Tuổi thơ của tôi lớn lên trong chiến tranh, ở một làng quê nghèo Nam bộ. Người cho tôi nhiều nhất chính là ba tôi, dù ông chỉ là một người nông dân. Tôi hay nghĩ về ông như một người nông dân nghệ sĩ. Những luống ruộng của ông rất đẹp. Ông lên liếp, đào mương thẳng tắp. Còn nhiều lắm những người thầy trong trường kiến trúc và cả những lĩnh vực khác đã “vỡ lòng” cho tôi về tính nhân văn, giá trị mơ ước của mọi tác phẩm kiến trúc. Tôi cảm thấy mình luôn còn thiếu, luôn mong muốn được đổ đầy. Một anh bạn học của tôi đã chép tay hơn 400 trang ca dao tục ngữ, anh khiến tôi hiểu rằng một công việc dù nhỏ, nếu làm đến nơi đến chốn vẫn mang lại những giá trị đóng góp đáng nể phục.
Trụ sở UBND và khối QLNN thị xã Châu Đốc - Công trình được trao Giải thưởng Kiến trúc Việt Nam và Giải thưởng Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh năm 2006
KTS Lê Văn Năm, nguyên Kiến trúc sư trưởng TP.HCM: Một người năng nổ, tham gia rất tâm huyết vào những vấn đề của đô thị, có những giải pháp ứng dụng sắc sảo. Sống với anh em chan hoà, cởi mở, với học trò tử tế, hết lòng. Cùng với hội Kiến trúc sư hoàn thiện bộ luật kiến trúc sư, anh đấu tranh quyết liệt cho quyền lợi của anh em trong nước, để thoát khỏi thực tế làm thuê cho nước ngoài kéo dài nhiều năm nay.
KTS Khương Văn Mười, Chủ tịch hội Kiến trúc sư TP.HCM: Một kiến trúc sư năm nào cũng có tác phẩm đoạt giải thưởng, với những sáng tạo rất phong phú, thấm đẫm hơi thở thiên nhiên. Mê nghề, ham vui, làm hết mình, mà chơi với anh em cũng hết sức.
KTS Nguyễn Trường Lưu: Tôi thường nói với bạn bè trong cuộc đời làm kiến trúc, chỉ ước sao được làm chuyên môn để có những tác phẩm tốt cho xã hội, và đóng góp cho cộng đồng trên lĩnh vực làm công tác quản lý về nghề nghiệp. Được một trong hai điều trên đã là hạnh phúc. Anh Tất làm được cả hai, đó cũng là hiếm.

Kiến trúc sư và Luật Kiến trúc sư

KTS Nguyễn Tấn Vạn - Chủ tịch hội KTS Việt Nam
Vào những năm 30 của thế kỷ trước, với sự xuất hiện của một số kiến trúc sư (KTS) người Việt tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương, đã đánh dấu một bước quan trọng của nền kiến trúc nước nhà. Lần đầu tiên, nước ta có KTS.
Và cũng từ đây, người Việt Nam bắt đầu làm quen với kiến trúc qua bản thiết kế. 18 năm sau, tháng 4/1948, tại chiến khu Việt Bắc, đoàn KTS Việt Nam, tiền thân của hội KTS Việt Nam được thành lập theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thư gửi Hội nghị, Bác đã khẳng định “việc kiến trúc là việc rất quan hệ” và Người căn dặn KTS “phải tùy hoàn cảnh mà xây dựng ngay trong kháng chiến và sau khi kháng chiến thành công”. Từ đó đến nay, trải qua biết bao khó khăn, thử thách, đội ngũ KTS ngày một trưởng thành, góp phần to lớn vào sự nghiệp kiến thiết đất nước và phát triển nền nghệ thuật kiến trúc Việt Nam hiện đại và giàu bản sắc.
Hơn 60 năm qua, kể từ khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đặc biệt là trong 30 năm đổi mới, kiến trúc có điều kiện phát triển và đạt được những thành tựu to lớn. Một hệ thống hơn 760 đô thị trải đều từ Bắc xuống Nam, từ đồng bằng đến miền núi, biển đảo. Bộ mặt kiến trúc nước nhà không ngừng thay đổi theo hướng văn minh, hiện đại. Nhiều khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu nghỉ dưỡng mọc lên. Hàng vạn công trình kiến trúc mới, hiện đại được xây dựng. Ngày hôm nay, những tòa nhà cao hàng chục, thậm chí hơn trăm tầng đã không còn là xa lạ với chúng ta. KTS Việt Nam bước đầu đã vươn lên để sáng tạo những tác phẩm kiến trúc không chỉ có quy mô lớn, phức tạp mà còn mang phong cách mới của thời đại.
Tuy nhiên, nhìn lại toàn cảnh diện mạo kiến trúc hôm nay, bên cạnh những thành tựu to lớn về vật chất mà chúng ta đã xây dựng nên, thì còn rất nhiều vấn đề phải suy nghĩ. Đó là sự thiếu đồng bộ trong phát triển kiến trúc và hạ tầng kỹ thuật đô thị. Chúng ta xây dựng nhiều nhưng rất ít công trình đẹp. Các đô thị phát triển nhanh nhưng kiến trúc manh mún, lộn xộn, nghèo nàn về hình thức. KTS được đào tạo nhiều, nhưng không tinh, rất ít KTS giỏi, đầu đàn có khả năng dẫn dắt và ảnh hưởng để tạo dựng nên các trường phái hay phong cách. Trong xu thế hội nhập quốc tế, KTS của chúng ta thiếu sự chuẩn bị đầy đủ về hành trang để có thể hòa nhập cùng đồng nghiệp trong khu vực và trên thế giới. Chúng ta luôn bị động, nếu không nói là bị yếu thế trước sự xâm nhập của kiến trúc quốc tế. Nền kiến trúc nước nhà đang có nguy cơ bị quốc tế hóa và mất dần bản sắc. Đó là một thực tế đáng báo động. Thực trạng trên không thể không có trách nhiệm của KTS.
Kiến trúc là một lĩnh vực đặc thù, vừa mang tính nghệ thuật, vừa mang tính kỹ thuật. Công việc của KTS là tạo dựng không gian ở cho con người và môi trường sống cho xã hội. Sản phẩm của KTS là sản phẩm đặc biệt, từ một ngôi nhà ở đến một đô thị, một quần cư… tất cả đều tác động và ảnh hưởng sâu rộng đến kinh tế văn hóa xã hội của đất nước. Sứ mệnh của KTS rất cao cả, trách nhiệm của KTS trước nhân dân, trước xã hội rất lớn lao. Thế nhưng, từ trước đến nay, hành nghề của KTS hầu như không bị ràng buộc bởi hành lang pháp lý. Trách nhiệm của KTS trước xã hội chưa được luật hóa, chỉ được đo bằng giá thiết kế phí. Quyền lợi của KTS khi hành nghề cũng không được đảm bảo, mà hoàn toàn phụ thuộc vào chủ đầu tư. KTS hành nghề trong một môi trường cạnh tranh thiếu lành mạnh. Sự đánh giá chất lượng của sản phẩm kiến trúc hầu như do chủ đầu tư quyết định, điều này đã dẫn đến sự cào bằng trong hành nghề KTS. Trong khi đó, Định hướng phát triển Kiến trúc Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng phê duyệt đã chỉ rõ “phải hoàn thiện cơ chế hành nghề KTS trên cơ sở thực hiện nghiêm ngặt chế độ KTS đăng ký; quy định đạo đức người đăng ký, năng lực nghề nghiệp xin đăng ký, trình tự thủ tục đăng ký, quy định chế độ hành nghề KTS…”. Hiện nay, Việt Nam đã và đang tiếp tục đường lối đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế. Nước ta đã gia nhập ASEAN, WTO và nhiều tổ chức trên thế giới. Hội KTS Việt Nam là thành viên của Liên hiệp KTS quốc tế UIA từ những năm 1980 và gần đây là Hiệp hội KTS châu Á (ARCASIA). Hầu hết các nước tham gia tổ chức này đều đã có Luật KTS hay còn gọi là Luật Hành nghề KTS.
Ngày nay, chúng ta đã có đến 17 nghìn KTS, trong đó có hơn 4 nghìn người là hội viên Hội KTS Việt Nam, đây là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng về xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng là kim chỉ nam để phát triển nền nghệ thuật kiến trúc nước nhà trong thời kỳ mới. Là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp của giới KTS, hội KTS Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc về sự cần thiết của Luật KTS đối với tương lai phát triển của nền kiến trúc. Luật KTS sẽ điều tiết: Trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của KTS trong hành nghề; Xây dựng đạo đức hành nghề; Xây dựng tổ chức quản lý hành nghề; Là cơ sở để thực hiện lộ trình đào tạo KTS từ trong nhà trường đến bồi dưỡng nâng cao năng lực cho KTS trong hành nghề; Đảm bảo quyền lợi của KTS tương ứng với giá trị của sản phẩm sáng tạo ra… Sự ra đời của Luật KTS thể hiện tính dân chủ, công bằng, minh bạch và trách nhiệm không chỉ cá nhân KTS mà còn với các tổ chức sử dụng sản phẩm sáng tạo của KTS, tất cả đều xuất phát vì lợi ích chung của nhân dân, của xã hội và sự phồn vinh của Tổ quốc. Vừa qua, chủ trương xây dựng Luật KTS do hội KTS Việt Nam khởi xướng đã nhận được sự đồng thuận của Bộ trưởng bộ Xây dựng. Đây sẽ là bước khởi đầu thuận lợi để có cơ sở xây dựng đề án Luật KTS trình Chính phủ và Quốc hội.
Hy vọng rằng, với sự quan tâm của Chính phủ và Quốc hội Luật KTS sẽ sớm được đưa vào chương trình soạn thảo Luật của Quốc hội, để trong một thời gian không xa, Luật KTS được ban hành sẽ là động lực để thúc đẩy nền kiến trúc nước nhà phát triển trong thời kỳ mới hiện đại giàu bản sắc và hội nhập quốc tế.

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Trò chuyện với nhà tư vấn kiến trúc - phong thủy Nguyễn Nguyên Bảy

SONG PHẠM//Internet
Nguyễn Nguyên Bảy là nhà báo, nhà văn, nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu Dịch lý Phương Đông. Từng công tác tại đài Tiếng nói Việt Nam, sau giải phóng miền Nam, ông chuyển vào TPHCM làm việc tại đài Phát thanh Giải phóng, rồi đài Truyền hình TPHCM, là người sáng lập làm nguyên Phó tổng biên tập tạp chí Kiến Trúc-Đời sống. Ông còn được mời đi giảng dạy, nói chuyện về kinh dịch, phong thủy, lý số ở nhiều nơi, trong và ngoài nước. Ông hiện là chủ nhân của trang web về kiến trúc-phong thủy, văn hóa, nghệ thuật phongthuybnn.com.vn nguyennguyenbay.com được rất nhiều độc giả truy cập.@
@ Ông có thể nói thế nào cho độc giả hiểu và phân biệt giữa phong thủy-khoa học và phong thủy-mê tín?
Nguyễn Nguyên Bảy: Theo tôi phong thủy là khoa học, là kiến thức, kinh nghiệm và cả năng khiếu nữa. Nói nôm na, phong thủy thực ra chỉ là làm sao để ta thích, ta yêu, ta sướng trong căn nhà ta ở mà thôi. Nói rộng hơn một chút: phong thủy là sự tương thích giữa cá thể (căn nhà của ta) với môi trường xung quanh. Hay nôm na: trời nắng thì ta phơi đồ, trời mưa thì ta hứng nước. Nôm na hơn nữa: đem vàng mà bán ở phố vàng, mang hoa bán ở phố hoa, không thể mang hoa sang bán ở phố vàng và ngược lại. Thêm một ví dụ nữa về cái tivi. Ai cũng rõ công năng của chiếc tivi là nghe và nhìn, nhưng bản thân tivi không làm ra sự nghe nhìn ấy. Làm ra nghe nhìn là các nhà đài, các trung tâm sản xuất chương trình và hệ thống kỹ thuật phát sóng. Vì vậy, khi tivi xộc xệch hình hay nghễnh ngãng tiếng, thì việc chỉnh sửa ăng ten - chỉ một điều chỉnh nhỏ - có thể khiến màn hình chuẩn hình, chuẩn tiếng trở lại. Tivi là một cá thể, ăng ten (cả hệ thống) là môi trường, sự tương thích giữa cá thể tivi với môi trường sóng chính là sự tương thích phong thủy vậy.
Ngoài ra, theo sách Kinh dịch, Phong (gió) trên, và Thủy (nước) dưới là quẻ Hoán, nghĩa là phàm cái gì đụng đến gió và nước thì phải xem xét, thay đổi, hoán chuyển, sắp xếp lại cho thích hợp, gọi là xê dịch hay hoán chuyển Phong Thủy. Và chỉ có một cách hoán duy nhất là… lật ngược nó lên thành Thủy trên, Phong dưới, ra quẻ Tỉnh - nghĩa là cái giếng - uống mãi không cạn, vơi lại đầy, đầy không tràn, nghĩa là phúc dầy. Như vậy, có thể hiểu phong thủy là dịch chuyển, là sắp xếp mọi thứ cho hợp lý để được hưởng phúc dầy như cái giếng. Ngoài ra những gì mơ hồ, bí hiểm… nghịch với quan niệm nói trên đều là dị đoan, vớ vẩn!
@ Ông nghĩ sao về quan niệm: xã hội phát triển cũng chính là “dịp” để các nhà phong thủy… ăn nên làm ra?
Nguyễn Nguyên Bảy: Xã hội có cung ắt có cầu. Tôi xem phong thủy từ những năm 1970, dạo ấy thù lao thường là chuối oẳn, sau này có chút lộc, chút tiền, nhưng nói “ăn nên làm ra” thì e quá đề cao nghề phong thủy! Đôi ba đồng bạc cắc so với các ngôi sao ca nhạc hiện nay, e chỉ bằng 1/1.000! Xin không nên quá đặt nặng vấn đề “nhuận kim” đối với người làm nghề phong thủy, chẳng qua cũng chỉ là người bán hàng rong đi qua nhà bạn mà thôi!
@ Được biết ở VN có một số trung tâm nhận đào tạo về phong thủy; bản thân nhà phong thủy như ông nghĩ sao về vấn đề này?
Nguyễn Nguyên Bảy: Ngày nay, phong thủy được xem là một nghề, mà đã là nghề thì nhất thiết phải được đào tạo. Thế nhưng “lò” đào tạo ấy như thế nào, phẩm hạnh của người làm thầy đó ra sao, giáo trình, giáo án được soạn thảo trên căn bản nào, đó mới là điều cần xem xét. Bởi vậy, nếu như nghề này được ngành giáo dục và đạo tạo chính thống quan tâm thì thật tốt biết bao! Vì bởi nó sẽ giúp hạn chế các kiểu phong thủy mê tín như đã đề cập ở trên. Tôi nói điều này vì biết một số quốc gia đưa môn học này vào đào tạo chính quy và thu được kết quả rất tốt.
@ Nếu đơn giản xem phong thủy chỉ là “soi gương ngắm mặt” - theo quan niệm của ông - và chỉ cần nghiên cứu sách vở, thì ai ai cũng có thể trở thành nhà phong thủy?
Nguyễn Nguyên Bảy: Thật vậy, nếu thực sự yêu thích và chịu khó học thầy, học từ sách vở và thực hành bài bản thì ai cũng có thể trở thành nhà phong thủy. Sau nhiều năm hành nghề, tôi ngộ ra sự tương thích phong thủy nhất chính là cơ thể người, vì vậy dụng phong thủy người vào phong thủy nhà là thuận pháp nhất. Cho nên mới gọi cách xem của mình là soi gương ngắm mặt mà luận phong thủy.
Theo tôi, phong thủy được thực hành bới hai pháp: Hữu hình pháp và vô hình pháp. Hữu hình là cái có thật, điều có thật, cái ấy tất nhiên phải học, học để thấy và biết. Vô hình pháp có vẻ mơ hồ và thường được các nhà phong thủy dụng làm pháp “hù dọa”, thần linh hóa. Tuy vậy, theo tôi, thầy phong thủy chân chính phải biến vô hình pháp thành hữu hình pháp, thì mới nên khuyến, nên trọng. Thí dụ làm cái gì thì cũng phải biết và thích, là trả lời cho được câu hỏi vì sao nó lại như vậy, phải như vậy và có tác dụng ấy. Do vậy khách luôn nên hỏi và thầy luôn nên đáp có luận, có lý, thế mới xây dựng được niềm tin - đây là bản chất quan trọng nhất của việc cải hoán phong thủy.
@ Theo ông, có chăng hiện tượng “lạm phát” các công ty phong thủy và các nhà phong thủy như hiện nay?
Nguyễn Nguyên Bảy: Lại đề cao phong thủy nữa rồi! Và các kiểu phong thủy nhố nhăng liệu có lừa người được lần thứ hai? Như tôi đã nói ở trên: xã hội có cung ắt có cầu. So với Hongkong, Đài Loan, Singapore, Nhật Bản, Trung Hoa thì cái gọi là “lạm pháp phong thủy” của ta chỉ là nụ cười tếu. Đừng lo lắng phong thủy lạm phát, thị phần công việc còn đặc quánh. Tôi tuổi già sức yếu, thủng thỉnh tư vấn mà ngày nào cũng ngập việc, lỗi hẹn…
@ Một quan niệm ít thiện cảm khác: “Phong thủy hay nhà phong thủy chỉ dành cho… người giàu!”, vì người nghèo thường chỉ mong một chỗ trú thân, không có nhu cầu hay cơ hội tiếp cận với phong thủy…
Nguyễn Nguyên Bảy: Tôi làm nghề tư vấn phong thủy tính đến nay thâm niên đã vài chục năm, đi khắp trong Nam ngoài Bắc, tự nhìn lại thấy con số phục vụ những người giàu chỉ bằng ¼ số phục vụ những người chỉ vừa đủ ăn đủ mặc mà ta cũng có thể gọi là “người nghèo”?
@ Nhà phong thủy có bị thách thức với các loại nhà hộp, nhà ống, hẻm siêu nhỏ, nhà siêu mỏng hay các loại văn phòng làm việc với diện tích giới hạn? Lời khuyên của nhà phong thủy cho từng trường hợp cụ thể này là gì, thưa ông?
Nguyễn Nguyên Bảy: Xin thưa, nhỏ như cái tổ chim cũng là nhà. Gia đình tôi đã từng sống trong căn nhà 8m vuông cạnh ao bèo và nhà xí công cộng, vậy mà tôi yêu căn nhà đó vô cùng, tôi chỉnh sửa nó đến… hết mức phong thủy! Và cũng từ đó mà gia đình hưng vượng lên. Đã nói phàm cái gì đụng tới gió và nước thì đều đụng đến phong thủy hết. Nhà ống, nhà chung cư, nhà trong hẻm, nhà siêu mỏng, nhà vừa ở vừa kinh doanh, nhà ở một người hay nhà tam tứ đại đồng đường… cứ xét vấn đề gió - nước mà chỉnh, mà sửa để ta yêu, ta thích và để lơi lạc phong thủy…
@ Không chỉ là nhà tư vấn phong thủy, ông còn là một nhà thơ, nhà báo, nhà nghiên cứu và giảng dạy. Trong các “nhà” trên, ông thích nhất “nhà” nào? Các “nhà” này đã phối hợp và bổ sung cho nhau thế nào, thưa ông
Nguyễn Nguyên Bảy: Trong các “nhà” mà người ta ưu ái gọi tôi, thực ra cũng giống như một cái nhà cụ thể, thuộc hành thổ, phụ trách sinh tồn của đời tôi. Tôi làm báo từ đầu những năm 1960, bên cạnh miếng cơm manh áo, thi thoảng tôi cũng có làm thơ chủ yếu để vui vầy với vợ con, vui nhân tình thế thái và cũng là để bớt cô đơn. Còn việc trở thành nhà tư vấn phong thủy, mục đích là nói cái lợi lạc cho người lợi lạc, mà cũng chẳng được bao nhiêu. Nói ra hổ thẹn với lòng, có thể xin không nhắc tới?Nếu không viết báo, làm thơ, thì tôi đã không làm được nghề tư vấn phong thủy như bây giờ, bởi nghề báo cho tôi nhiều trải nghiệm, làm thơ cho tư duy tôi trừu tượng, mênh mông, và tư duy trừu tượng lại chính là bản chất của tư duy phong thủy. Vậy nên dĩ nhiên tôi vẫn thích nhất thơ, vì thơ có khả năng đưa tôi xuống… thủy cung thăm vua Thủy Tề, đưa tôi lên Hỏa, sao Kim thăm những cái mà con người văn minh đang tìm kiếm. Nhưng cũng thật tiếc là bây giờ còn được bao người thích đọc thơ?
@ Xin cảm ơn ông./.

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Văn hóa làng xã và triết lý phát triển

Hiệu Minh // Ashui
Ngày nay, nghe rất nhiều vĩ từ nói về văn hóa, ít ai thích chữ làng xóm quê mùa. Phải chăng những nét đẹp của nôi văn hóa làng xã bị bỏ qua, nhưng tính tiểu nông vẫn còn trong tư duy.
Một lần ra Hà Nội, thấy nhà cao tầng lắp ghép ở Thành Công, bố tôi thích lắm. Nhưng khi vào căn hộ trên tầng 4, cụ ngạc nhiên. Nhà anh cửa không ở chính giữa, không có ngưỡng cửa, hai gian thông thống, bàn thờ để đâu? - Bố cổ quá rồi, bây giờ ai làm thế.
Cụ thở dài, ngưỡng cửa để người ra vào phải cúi xuống, vừa không bị vấp nhưng cũng là cúi đầu bàn thờ tổ tiên để gian giữa. Anh đi xa quên hết rồi.
Mấy hôm nay, tầu xe bắt đầu chật chội, bận rộn hơn. Hàng triệu người hối hả về quê ăn Tết. Buồn thay những người không có nơi để về hay không thể thăm nơi cố hương. Trong số về làng, còn ai bước qua cái bậu cửa, nghiênh mình trước tổ tiên!
Từ thời xa xưa, làng xã là tổ chức cộng đồng khép kín. Đình làng thờ thành hoàng, tổ chức lễ hội. Lũy tre và cổng làng là điển hình của biên giới và cửa khẩu của “làng gia” với những luật lệ riêng.
Gia đình, dòng tộc cũng đóng góp phong phú thêm truyền thống làng xã. Về quê gặp ông trưởng tộc, tuổi còn rất trẻ nhưng già trẻ vẫn phải thưa gửi. Con cái ăn khoai sắn thay cơm nhưng nhà thờ họ, giỗ họ, mộ tổ phải to.
Sau lũy tre chứa đựng những điều tốt đẹp và cả bất cập. Mọi sự phát triển, tụt hậu, chiến thắng hay thất bại đều dựa vào truyền thống ấy. Gọi mỗi người Việt Nam là một trai làng cũng không ngoa. Vì quả thật, họ được sinh ra trong cái nôi bản sắc văn hóa làng xã đó. Phải chăng đó là triết lý cho phát triển một đất nước với 70%-80% nông dân.
Truyền thống làng xã thời chiến tranh và bao cấp
Trải qua gần nghìn năm Bắc thuộc, rồi mấy cuộc xâm lăng của gần đây, làng xã và lũy tre là pháo đài chống giặc, sàng lọc luôn cả văn hóa ngoại lai. Lời kêu gọi “cứu nước cứu nhà” đưa về từng làng xóm, “đóng cửa bảo nhau” đã vận động và đưa ra tiền tuyến hàng triệu thanh niên.
Hợp tác xã là một biến thể khác của kiến trúc làng xóm. Với tư duy làm chủ tập thể, nghĩa là ai cũng là chủ nhưng không ai muốn…làm. Nông dân ta vốn cần cù đi sớm về muộn nay được đi muộn về sớm. Bao nhiêu ruộng đất, trâu bò được cho vào chung. Đình làng, chùa chiền được đập đi và xây nhà kho đựng lúa, phá hỏng cái nôi văn hóa làng.
Mô hình HTX đã gây thảm họa vì khuyến khích thói quen “cha chung không ai khóc”. Bầu bán gây mất đoàn kết nghiêm trọng vì các dòng tộc thi nhau vận động để người của mình được vào ban chủ nhiệm.
Truyền thống làng xóm đem lại chiến thắng trong chiến tranh nhưng thất bại trong xây dựng một thời vì hàm lượng văn hóa làng xã trong những quyết định khác nhau.
Thời hội nhập và hệ lụy
Cũng may có đổi mới - hay còn gọi là sửa sai quá khứ. Người nông dân làm chủ đồng ruộng thực sự. Từ nước phải nhập lương thực, dân đói khát, ăn bo bo thay gạo, Việt Nam xuất khẩu gạo, đứng thứ 3 trên thế giới. Lũy tre giúp cho hạt gạo thành đô la.
Tham gia WTO, rồi mở cửa. Từ chỗ 80% dân sống dưới mức nghèo khổ nay còn 15%. Nhiều trai làng đã ra thành phố để lại miền quê phía sau. Và “tre làng” đang len lỏi mọc trong hành xử của dân chúng, trong trí thức và cả người lãnh đạo.
Thời thế đã đổi thay. Cổng làng là internet gateway. Đôi khi, khó mang “lệ làng tôi” ra tranh cãi với quốc tế với những khái niệm và giá trị chung của nhân loại về quyền con người, dân chủ, tự do thông tin, minh bạch hay công lý.
Phương Tây tôn trọng tính cá nhân trong mỗi con người. Phương Đông cho rằng cộng đồng quan trọng hơn. Người Việt trồng những bụi tre bao gồm rất nhiều cây đứng đan xen, cành rậm rịt và gai góc để bảo vệ làng xóm.
Phía sau lũy tre ấy cũng chứa đựng những tăm tối. Lệ làng cổ hủ, phong kiến hay tôn sùng vô thức. Lợi ích nhóm, làng anh, làng tôi, họ Nguyễn, họ Lê, để rồi tự dìm nhau. Tuyển con cháu vào cơ quan gây ra xung đột lợi ích. Kiến trúc đô thị hay hành xử công cộng được mang từ quê ra thành phố và tràn sang cả nước bạn. Những tăm tối là rào cản trong phát triển, cần được chiếu sáng.
Nguy cơ cao hơn cả là mỹ từ toàn cầu hóa có thể cuốn đi cả một đất nước, một nền văn hóa. Người ta chú trọng đến mở rộng thành phố, thêm nhà máy, khu công nghiệp, xây sân golf. Môi trường bị hủy hoại, rồi tài nguyên thiên nhiên, đất trồng trọt, làng mạc dễ bị mất vào một bàn tay núp dưới danh nghĩa hội nhập.
Thấy chuyện bẻ hoa gần đây, cô cháu viết mail, bức xúc trước chuyện người ta lên án người nhà quê một cách bừa bãi. Theo cháu, Chí Phèo bị đẩy ra khỏi cuộc sống cộng đồng làng xã, và chính cộng đồng đó – tự thân nó cũng đang bị rạn vỡ. Thế nên Chí mới phải chết trên ngưỡng cửa làm người. Dưới danh nghĩa phát triển, văn hóa làng xã đang bị lên án oan ức, bị đổ tội, bị quy trách nhiệm vì sự phát triển nửa chừng của văn hóa thành thị.
Lũy tre làng và triết lý phát triển
Đất nước đang đứng trước những thời khắc quyết định mà yếu tố văn hóa không thể tách rời và phải là cái nôi để phát triển.
Phía sau lũy tre Việt Nam là những tâm hồn yêu quê hương, gắn bó với đất nước, tình đoàn kết chòm xóm, tối lửa tắt đèn có nhau, không quên cội nguồn. Tôn ty trật tự trong làng, dòng họ và gia đình, có trên, có dưới, một xã hội có thứ bậc. Rồi kiến trúc đình làng, ngôi nhà ở quê với ngưỡng cửa và bàn thờ. Những giá trị truyền thống là cội nguồn sức mạnh từ hàng ngàn năm nay.
Là quốc gia đồng nhất về sắc dân và văn hóa, người Nhật lấy truyền thống trên dưới, tôn ti trật tự và kỷ luật lao động cho phát triển. Gia đình là tổ ấm, vai trò nam nữ ấn định rõ ràng. Nam giới hướng ngoại (soto no), nữ giới hướng nội (uchi no). Cách cúi chào bằng cách gập người xuống và độ hạ thấp tùy thuộc địa vị xã hội, một dấu hiệu để tỏ lộ sự kính trọng. Nhưng họ lại dung hòa được với nền dân chủ văn minh và tự do báo chí.
Với đất nước đa sắc tộc, người Mỹ lấy yếu tố cá nhân làm chủ đạo trong phát triển xã hội, dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập, có báo chí là “quyền lực thứ tư”, giám sát xã hội. Quyền con người được tôn trọng. Nam nữ bình đẳng, khác với truyền thống Nhật. Ngoài ra, sự phát triển của Hoa Kỳ dựa trên nền tảng giáo dục, gia đình và tôn trọng cá nhân. Họ dùng các nhát cắt rất rõ ràng để ra các định chế.
Người Nhật và người Mỹ đã bỏ chúng ta khoảng cách hàng trăm năm. Nhiều quốc gia khác cũng đang dùng văn hóa, truyền thống của mình để phát triển đất nước. Không thể theo người ta vì nôi văn hóa của họ rất khác. Mang truyền thống Trung hoa hay Thái lan áp đặt cho dân ta cũng thất bại. Chính sách đồng hóa của ngoại bang chưa bao giờ thành công ở đất nước này, lý tưởng lấy từ bên ngoài cũng dễ bị lũy tre chặn lại.
Nhiều nhà kinh tế hay chính trị thường quên đi giá trị của văn hóa khi ra các quyết định mà không hiểu rằng, văn hóa không những là di sản mà còn là tương lai của dân tộc. Nôi văn hóa làng xã sẽ đi theo suốt chặng đường phát triển. 80% là nông dân, 20% đang ở thành phố cũng do nông dân đẻ ra. Triết lý phát triển không thể quên yểu tố “nông dân” và cái đình làng.
Làm gì để những trai làng kia thành những công dân toàn cầu. Họ thắng giặc ngoại xâm, nhưng trong xây dựng lại chưa đủ tri thức dù lũy tre làng từ ngàn đời đã dậy cho họ tính ham học, vươn lên từ gian khó.
Người ta nói về thế hệ toàn cầu phải có tri thức giầu có, biết tiếng Anh, giỏi máy tính, hiểu văn hóa thế giới. Kể ra thì rất nhiều. Nhưng có khi nó rất đơn giản. Nếu nền giáo dục tạo ra thế hệ có tầm nhìn, độc lập suy nghĩ, tự quyết định, tự chịu trách nhiệm thì trước mọi bài toán của cuộc đời, họ biết làm thế nào để tìm lối ra.
            Ngày nay, nghe rất nhiều vĩ từ nói về văn hóa, ít ai thích chữ làng xóm quê mùa. Phải chăng những nét đẹp của nôi văn hóa làng xã bị bỏ qua, nhưng tính tiểu nông vẫn còn trong tư duy. Vì thế, người già còn thở dài, lo đám con cháu bước qua bậu cửa, quên nghiêng mình trước tổ tiên. Những trai làng chưa thể bước ra ngoài với thế giới.

Xây dựng nông thôn mới: Quy hoạch phải đi trước…

Nguyễn Khoa // Ashui
Theo TS Nguyễn Anh Tuấn nhận định trong đề tài nghiên cứu của mình: “Cảnh quan nông thôn hình thành bởi các đặc thù cảnh quan của ba loại không gian: cảnh quan phố làng, cảnh quan khu nhà vườn và cảnh quan khu nhà ở. Giá trị của từng ngôi nhà cũng phụ thuộc vào giá trị cảnh quan và mô hình khu ở”. Như vậy, một vấn đề còn quan trọng hơn và phải đi trước việc triển khai chính sách nhà ở cho người nông dân đó là quy hoạch nông thôn. Hiện nay, các huyện trong cả nước đều đang tiến hành lập quy hoạch chi tiết 1/2.000 kết hợp với quy hoạch phân khu và quy hoạch 1/500 một số khu dân cư mới (dự kiến sẽ được xây dựng ở đây).
Tuy nhiên, trên thực tế, bộ mặt nông thôn còn khá ngổn ngang: nhà ở rải rác, xen cài giữa nhà ở là các nhà máy, xí nghiệp, các khu công nghiệp… Tình trạng chất thải của các nhà máy xí nghiệp thải ra rất phổ biến. Chấn chỉnh lại hiện tượng này và đặc biệt phải “dũng cảm” làm lại một cuộc “cách mạng” về di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường đang nằm xen lẫn trong khu dân cư, giữa các cánh đồng lúa, những vườn cây ăn trái vào các khu công nghiệp tập trung (những khu công nghiệp này phải được đầu tư hệ thống xử lý chất thải đúng quy định) thì mới mong có được bộ mặt nông thôn mới hiện đại nhưng vẫn đậm chất dân tộc với vệ sinh, môi trường được đảm bảo. Không có quy hoạch, không có sự sắp xếp lại không thể có nông thôn mới như mong muốn. [*]
Một vấn đề khác cũng cần được lưu ý khi làm quy hoạch nông thôn. Đó là phải cân nhắc tới yêu cầu sản xuất lớn trong nông nghiệp. Nên chăng để người dân sinh sống rải rác với những thửa ruộng, miếng vườn nho nhỏ khi mà để sản xuất ra nông sản với chất lượng cao thì phải có những cánh đồng chuyên canh rộng lớn - nơi có đủ điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất nông nghiệp? Nhiều vùng ở nông thôn miền Bắc nói đến việc “dồn điền, đổi thửa” để sản xuất lớn. Miền Nam đất rộng hơn nhưng cũng nên quan tâm đến vấn đề này nhất là khi nông sản Việt Nam chưa có chỗ đứng xứng đáng trên thị trường thế giới. Nông thôn TPHCM có thể không tập trung cho sản xuất ra nông sản mà chỉ sản xuất giống các loại cây và con có năng suất cao, chất lượng tốt. Thế nhưng, nội vấn đề này cũng đã đồng nghĩa với việc cần sản xuất lớn với những sự đầu tư đúng mức. Cuộc sống người dân được cải thiện, người dân sẽ có thêm cơ hội xây dựng những ngôi nhà đẹp cho mình và cho xã hội.
----------------------------------------------------------------------------
[*] Phần đoạn này, có thể tác giả lấy hình ảnh của các vùng ven đô thị hoặc ven KCN ở các địa phương phát triển đô thị hóa mạnh mẽ.